bo bien nuoc ta keo dai khoang 3260 km tu

[CHUẨN NHẤT] Bờ biển nước ta kéo dài khoảng 3260 km từ

Sức Khỏe & Làm Đẹp

Lời giải và đáp án chính xác nhất cho câu hỏi trắc nghiệm: “Bờ biển nước ta kéo dài khoảng 3260 km từ” kèm kiến thức tham khảo là tài liệu trắc nghiệm môn Địa lý 12 hay và hữu ích do Top Tài Liệu tổng hợp và biên soạn dành cho các bạn học sinh ôn luyện tốt hơn.

Trắc nghiệm : bờ biển nước ta kéo dài khoảng 3260 km từ

A. Móng Cái đến Bạc Liêu .
B. Hải Phòng Đất Cảng đến Cà Mau .

C. Móng Cái đến Hà Tiên.

D. Móng Cái đến Cà Mau .

Trả lời :

Chọn đáp án C. Móng Cái đến Hà Tiên.

Giải thích

– Đường bờ biển nước ta cong như hình chữ S, dài 3260 km, chạy từ Móng Cái ( Quảng Ninh ) đến Hà Tiên ( Kiên Giang ) .

Kiến thức lan rộng ra về vị trí địa lí và khoanh vùng phạm vi chủ quyền lãnh thổ và biển của Nước Ta

1. Vị trí địa lí

– Địa lý Nước Ta là những đặc thù địa lý của nước Nước Ta, một vương quốc nằm ở rìa phía đông bán đảo Đông Dương, TT khu vực Khu vực Đông Nam Á. Diện tích Nước Ta là 331.212 km². Biên giới Nước Ta trên đất liền dài 4.639 km, giáp với vịnh Xứ sở nụ cười Thái Lan ở phía tây nam, vịnh Bắc Bộ và biển Đông ở phía đông, Trung Quốc ở phía bắc, Lào và Campuchia ở phía tây. Hình dáng Nước Ta trên map có dạng hình chữ S, khoảng cách từ bắc tới nam ( theo đường chim bay ) là 1.650 km và vị trí hẹp nhất theo chiều đông sang tây nằm ở Đồng Hới ( Quảng Bình ) với chưa đầy 50 km. Đường bờ biển dài 3.260 km không kể những hòn đảo. Ngoài vùng nội thủy, Nước Ta công bố 12 hải lý lãnh hải, thêm 12 hải lý vùng tiếp giáp lãnh hải, 200 hải lý vùng độc quyền kinh tế tài chính và ở đầu cuối là thềm lục địa. Vùng biển thuộc chủ quyền lãnh thổ, quyền chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán của Nước Ta chiếm diện tích quy hoạnh khoảng một triệu km² biển Đông .

2. Phạm vi lãnh thổ

– Lãnh thổ Việt nam là một khối thống nhất và toàn vẹn, gồm có vùng đất, vùng biển và vùng trời .

a. Vùng đất

– Diện tích đất liền và những hải đảo 331212 km2 .
– Biên giới :
+ Phía Bắc giáp Trung Quốc với đường biên giới dài 1300 km .

+ Phía Tây giáp Lào 2100km, Campuchia hơn 1100km.

+ Phía đông vànam giápbiển 3260 km
– Nước ta có 4000 hòn đảo, trong đó có hai quần đảo Trường Sa ( Khánh Hoà ), Hoàng Sa ( TP. Đà Nẵng ) .

b. Vùng biển

– Diện tích khoảng 1 triệu km2 .
– Gồm : vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng độc quyền kinh tế tài chính và vùng thềm lục địa .

c. Vùng trời

Khoảng khoảng trống bao trùm trên chủ quyền lãnh thổ .

3. Biển Việt Nam

– Vùng biển nước ta có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch
Đất nước Việt Nam chạy dài trên 15 vĩ độ địa lý nhưng lại hẹp về chiều ngang, khí hậu phân hóa, phong phú về tập quan dân tộc, bờ biển dài có nhiều bãi cát rộng, vũng, vịnh, hang động tự nhiên đẹp, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới, tiêu biểu là quần thể núi và hang động đá vôi ở Vịnh Hạ Long đã được UNESCO xếp hạng là di sản thiên nhiên của thế giới.
Ngoài ra còn có các thắng cảnh tự nhiên trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha – Kẻ Bàng, Thiên Đường, Sơn Đoòng, Bích Động, Non Nước… Ngày nay sức thu hút của du lịch biển, đảo đã vượt ra ngoài các loại hình du lịch truyền thống, phát triển với nhiều loại hình đa dạng hơn, phong phú hơn. Biển Việt Nam có đầy đủ điều kiện để phát triển như:

Bờ biển nước ta kéo dài khoảng 3260 km từ

– Nghỉ ngơi, dưỡng bệnh, tắm biển, du lịch thăm quan ở vùng duyên hải hay ở ngoài hòn đảo ;
– Du lịch sinh thái xanh điều tra và nghiên cứu khoa học vùng duyên hải, hải đảo trong lòng biển ;

– Du lịch thể thao với các hoạt động ngoài trời như: bơi, lặn sâu, lướt ván, nhảy sóng, đua thuyền..Loại hình du lịch này ngày càng hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách vì sự gắn kết giữa rèn luyện sức khỏe và nghĩ dưỡng;

– Du lịch hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế.
Biển Việt Nam còn là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước

– Hiện có trên 31 % dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh thành phố ven biển, Đa số những thành phố, thị xã đều nằm ở ven sông, cách biển không xa, nhất là thành phố, thị xã ở miền Trung Nước Ta nằm ven biển, có đường quốc lộ 1A chạy qua. Khu vực ven biển cũng là nơi tập trung chuyên sâu những TT công nghiệp lớn có nhiều trường bay, cảng biển quan trọng, những địa thế căn cứ thủy quân, kho tàng, những khu công trình kinh tế tài chính, quốc phòng khác. Các tỉnh, thành phố ven biển có những cảng, cơ sở sửa chữa thay thế, đóng tàu, đánh bắt cá hoặc chế biến món ăn hải sản, làm muối … lôi cuốn hơn 13 triệu lao động, xử lý việc làm làm ăn, góp thêm phần to lớn vào việc không thay đổi tình hình kinh tế tài chính, chính trị, xã hội và bảo mật an ninh quốc phòng .

– Biển Việt Nam có vai trò quan trọng trong xây dựng thế trận quốc phòng – an ninh của đất nước
Với các vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địa hình bờ biển quanh co, khúc khủy, có nhiều dãy núi chạy ra biển, chiều ngang đất liền có nơi chỉ rộng khoảng 50km (tỉnh Quảng Bình) nên việc phòng thủ từ hướng biển luôn mang tính chiến lược. Mạng lưới sông ngòi chằng chịt chảy qua các miền của đất nước, chia cắt đất liền thành nhiều khúc, cắt ngang các tuyến giao thông chiến lược Bắc – Nam. Ở nhiều nơi, núi chạy lan ra sát biển, tạo thành những địa hình hiểm trở, những vùng kín, xen lẫn với những bờ biển bằng phẳng, thuận tiện cho việc trú đậu tàu thuyền và chuyển quân bằng đường biển.
Hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta cùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bò, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển nước ta. Biển là chiến trường rộng lớn để ta triển khai thế trận quốc phòng toàn dân – thế trận an ninh nhân dân trên biển để phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự an ninh từ xa đến gần, trong đó có các khu vực biển trọng điểm như Vịnh Bắc Bộ, vùng biển quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa; khu du lịch kinh tế kỹ thuật dầu khí DK1, DK2, vùng biển Tây Nam.